Các khối u ung thư thường sản xuất nồng độ dấu ấn ung thư với số lượng lớn hơn. Vì thế, một số dấu ấn có thể được sử dụng trong một số loại ung thư.

Nhiều bệnh ung thư liên quan đến sự sản xuất bất thường một số phân tử có thể định lượng được trong huyết thanh. Các phân tử này gọi là dấu ấn ung thư hay chất chỉ điểm ung thư. 

Các dấu ấn ung thư này vẫn được sản xuất với nồng độ thấp ở các mô bình thường. Điểm khác biệt là, riêng các khối u sẽ sản xuất chúng với số lượng lớn. 

Cho tới thời điểm hiện tại, xét nghiệm dấu ấn ung thư không thể sử dụng đơn độc để chẩn đoán xác định có ung thư hay không, mà phải phối hợp với thăm khám lâm sàng và những xét nghiệm chuyên sâu khác.

Dưới đây là Bệnh viện Ung bướu Hà Nội đưa ra một số dấu ấn ung thư thường sử dụng:

1. CEA

- Giới hạn bình thường: 0-10 ng/ml.

- CEA là một thành phần của màng nhầy đại trực tràng.

- Tăng trong ung thư đường tiêu hoá như: ung thư thực quản, dạ dày, gan, tụy, đại trực tràng, vú, buồng trứng, cổ tử cung, tuyến giáp.

- Có thể tăng không nhiều trong polyp đại tràng, viêm ruột non, viêm tuỵ, suy thận mạn.

2. AFP

- Giới hạn bình thường: 0-7 ng/ ml.

- AFP huyết tương tăng trong ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư tế bào mầm (tinh hoàn).

- Giá trị chính của AFP là theo dõi tiến trình bệnh và hiệu quả điều trị ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư tinh hoàn sau điều trị phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị liệu.

- AFP huyết tương có thể tăng trong viêm gan, xơ gan.

3. PSA

- Giới hạn bình thường: Ở những người < 50 tuổi: PSA < 2,5 ng/ml. Những người > 50 tuổi: PSA < 5 ng/ml.

- PSA huyết tương tăng trong ung thư tuyến tiền liệt; có thể tăng trong u phì đại, viêm tuyến tiền liệt.

- PSA có giá trị trong tầm soát ung thư tuyến tiền liệt, thường được sử dụng kết hợp với chụp trực tràng, siêu âm và sinh thiết (biopsy) ở những đàn ông trên 50 tuổi.

4. CA 125

- Giới hạn bình thường: 0-35 U/ ml.

- CA 125 huyết tương tăng trong ung thư buồng trứng, ung thư cổ tử cung; có thể tăng trong các bệnh lý thanh dịch như cổ trướng, viêm màng tim, viêm màng phổi, viêm màng bụng,…

- CA 125 có vai trò chủ yếu trong chẩn đoán ung thư buồng trứng, đánh giá sự thành công của điều trị và theo dõi tiến trình của bệnh.

5. CA 15-3

- Giới hạn bình thường: 0-32 U/ ml.

- CA 15-3 huyết tương tăng trong ung thư vú, có thể tăng trong u vú lành tính, viêm gan, viêm tuỵ.

- CA 15-3 là một marker hữu ích để theo dõi tiến trình bệnh ở bệnh nhân ung thư vú di căn. Xét nghiệm này không phù hợp cho việc chẩn đoán vì độ nhạy quá thấp khi ung thư vú chưa có di căn.

6. CA 72-4

- Giới hạn bình thường: 0-5,4 U/ ml.

- CA 72-4 huyết tương tăng trong ung thư dạ dày, có thể tăng trong xơ gan, viêm tuỵ, viêm phổi, thấp khớp.

- Được sử dụng để theo dõi và hiệu quả điều trị ung thư dạ dày.

7. CA 19-9

- Giới hạn bình thường: 0-33 U/ ml.

- CA 19-9 huyết tương tăng trong các ung thư đường tiêu hoá như ung thư gan (thể cholangiom), đường mật, dạ dày, tuỵ và đại trực tràng.

- CA 19-9 huyết tương cũng có thể tăng trong viêm gan, viêm tụy, đái tháo đường, xơ gan, tắc mật.

- Vai trò chủ yếu của CA 19-9 là phát hiện sớm sự tái phát và theo dõi hiệu quả điều trị các ung thư đường tiêu hoá như nêu trên.

Theo Hà An (Dân trí)